Đêm trên hải đăng và tiếng ghita mộc.
Lang thang trên những con đường Vũng Tàu, ánh sáng của ngọn Hải Đăng chỉ đường cho tôi lên Núi Nhỏ. Đã từng lên chỗ này nhưng hôm nay thấy khác nhiều, vừa rồi thi Hoa Hậu Quý Bà nên cây chỗ này được phát quang một phần để tạo view từ trên đỉnh núi ngắm thành phố cho các hoa hậu. Thành ra hôm nay ngắm thành phố được rộng hơn, sáng hơn và đẹp lung linh hơn.

Đêm trên hải đăng và tiếng ghi ta mộc
Ngọn đèn trên đỉnh Hải Đăng vẫn quay đều, tỏa ánh sáng khắp nơi, hắt lên những cảnh cây khẳng khiu. Dưới kia, thành phố đang về đêm, đèn đường đang thi nhau sáng. Đềm về trên thành phố biển, bình yên. Chợt có tiếng Ghita mộc cất lên, “Chuyện đồi hoa sim” đã lâu rồi mới được nghe tiếng Ghita mộc gần và hay đến vậy, giọng hát trầm. Tôi quay ra một người đàn ông tuổi đã ngoại ngũ tuần đang ôm đàn hát. Anh hát luôn mấy bài thơ được phổ nhạc từ “Chuyện đồi hoa sim” của Hữu Loan, tôi thấy cả hình ảnh “Những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt” trong “Những đồi hoa sim” – Dzũng Chinh, và hình ảnh người chiến binh với chiếc áo sứt chỉ chưa có bàn tay ai vá trong “Áo anh sứt chỉ đường tà” – Phạm Duy, rồi cả câu thơ than trách chiến tranh thảm khốc “Nhưng không chết người trai khói lửa Mà chết người em nhỏ hậu phương” của Anh Bằng trong “Chuyện hoa Sim”.
Chuyển từ thể loại nhạc tiền chiến với những bước chân hành quân vội vã, anh hát về thành phố, về cuộc sống lao động với “Thành phố tình yêu và nỗi nhớ”. Lời hát, tiếng ghita như được chất chứa bao nỗi niềm tâm sự.
Anh mời tôi hát, cao nhân đã mời tuy biết sức mình có hạn tôi vẫn hát. Cái buồn vẫn còn trong ý nghĩ sau khi nghe mấy bài hát của anh, tôi chọn một bài từ thời sinh viên, những mảnh vỡ kỷ niệm về mối tình đầu không thành, ghita có mấy chỗ quêm gam nên hơi phô. Kết thúc bài hát, cảm giác như đã có thể nói cùng ngôn ngữ được với anh, tôi mạnh dạn hỏi chuyện, về những bài hát, về cây đàn, về công việc của anh. Anh là thủy thủ, công việc lênh đên trên biển cả, nay đây mai đó. Bây giờ khi tuổi đã chín, chân chưa mỏi nhưng cũng muốn tìm chỗ neo đậu, anh neo thuyền về Sài Gòn nơi có vợ và các con đã quen cuộc sống chờ đợi mấy chục năm qua, nhớ nghề, nhớ những con tàu, a xuống Vũng Tàu chọn công việc trên Hải Đăng để ngày ngày có thể quan sát biển, đêm về các anh lại thành những người chỉ đường cho những chuyến tàu đang tìm bến neo. Vẫn làm được đúng công việc cũ là 1 kỹ sư Radio. Anh thích hát mấy bài tiền chiến để nhớ lại anh em, bạn bè trong những năm tháng anh em chiến đấu ở Capuchia, chống diệt chùng Pôn Pốt.
Tôi hào hứng nghe và hỏi, anh hào hứng kể và cười. Người đàn ông với vẻ ngoài phong trần, cứng cáp, một thủy thủy giạn dày kinh nghiệm tâm sự anh đã đi nhiều, qua hơn trăm nước. Đã có những đêm say nhạc Flamenco ở Tây Ban Nha, những buổi hòa mình với điệu Samba bốc lửa trên đường phố Brazil, rồi những ngày lang thang trên đất Mỹ may mắn được nghe Lobo hát How Can I tell her, hay những tháng tàu bị “treo” ở Sydney được bạn bè mời đi xem Sex show, qua cả những kênh đào Panama, Suez, vượt qua nỗi sợ hãi của hải tặc, về với Châu Phi với những bức ảnh chụp cùng những cô em bốc lửa
. Anh kể về công việc, về những con tàu 4, 5 vạn tận nơi anh làm việc, về những cây đàn Yamaha anh mua được từ Nhật phải ngậm ngùi chuyển lại cho mấy đứa bạn thân là nhạc sỹ…, nhiều những cuộc phưu lưu nữa
Tôi kể cho anh về đam mê du lịch của mình, về những vùng đất tôi đã đi qua và để lại trong tôi cảm hứng sâu sắc, anh động viên còn trẻ tiếp tục phấn đấu, trau dồi ngoại ngữ thì cơ hội vươn ra biển lớn còn nhiều.
Đêm dần buông, tôi giới thiệu tên và chào anh ra về, anh cười, nói tên và chào tạm biệt. Có điều gì đó đặc biệt trong tên anh, con người cả đời lênh đênh trên biển lại có cái tên là núi(Sơn), cũng may đến khi neo thuyền anh lại được lên làm việc đây, trên đỉnh núi này để cái tên anh lại được gắn với đời anh, với những con tàu và những đêm ghita phiêu bồng.
Chúc anh sức khỏe và mong có dịp tái ngộ
